Thu Nhập Vãng Lai Từ 3 Triệu Đồng/Lần Bị Khấu Trừ 10% Thuế TNCN Từ Năm 2026?

Thu Nhập Vãng Lai Từ 3 Triệu Đồng/Lần Bị Khấu Trừ 10% Thuế TNCN Từ Năm 2026?
Table of Contents

Gần đây, cộng đồng người lao động tự do (freelancer), những người làm việc bán thời gian và các doanh nghiệp đang dành sự quan tâm đặc biệt đối với những thay đổi sắp tới của chính sách thuế Thu nhập cá nhân (TNCN). Một trong những câu hỏi được đặt ra nhiều nhất là: “Thu nhập vãng lai từ 3 triệu đồng/lần bị khấu trừ 10% thuế TNCN theo đề xuất mới nhất 2026 phải không?”.

Dưới đây là bài viết pháp lý chuyên sâu, phân tích cặn kẽ mọi khía cạnh của sự thay đổi này, từ hạn mức khấu trừ, việc cấp chứng từ thuế, cho đến công thức tính thuế TNCN áp dụng cho kỳ tính thuế mới.

THU NHẬP VÃNG LAI TỪ 3 TRIỆU ĐỒNG/LẦN BỊ KHẤU TRỪ 10% THUẾ TNCN THEO ĐỀ XUẤT MỚI NHẤT 2026

Đối với những cá nhân có thu nhập từ nhiều nơi, hoặc làm việc theo hình thức cộng tác viên, lao động thời vụ, việc nắm rõ hạn mức bị khấu trừ thuế tại nguồn là vô cùng quan trọng để quản lý tài chính cá nhân. Sự thay đổi lớn nhất trong thời gian tới nằm ở việc nâng hạn mức khấu trừ thuế đối với thu nhập vãng lai.

1.1. Quy định về hạn mức 3 triệu đồng/lần theo Dự thảo mới

Căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 50 của Dự thảo Nghị định hướng dẫn Luật Thuế TNCN 2025, một cột mốc pháp lý quan trọng đã được thiết lập đối với người lao động. Dự thảo này dự kiến sẽ chính thức có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2026.

Theo đó, quy định nêu rõ: Các tổ chức, cá nhân khi tiến hành chi trả thu nhập cho các cá nhân cư trú không ký hợp đồng lao động, hoặc có ký hợp đồng lao động nhưng thời hạn dưới 3 tháng, nếu mức thu nhập chi trả từ 3 triệu đồng/lần trở lên, thì tổ chức/cá nhân chi trả bắt buộc phải khấu trừ 10% thuế TNCN. Việc khấu trừ này, cùng với thủ tục khai thuế và nộp thay thuế, phải được thực hiện trước khi khoản thu nhập đó được trả cho người lao động.

1.2. So sánh với quy định hiện hành và điểm nhấn “Xóa bỏ bản cam kết”

Để thấy rõ sự thay đổi và tác động của đề xuất này, chúng ta cần đối chiếu với hành lang pháp lý đang được áp dụng hiện hành.

Hiện nay, theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 25 Thông tư số 111/2013/TT-BTC, hạn mức thu nhập làm căn cứ khấu trừ thuế được đặt ở mức thấp hơn. Cụ thể, tổ chức chi trả chỉ cần trả thu nhập từ 2 triệu đồng/lần trở lên cho cá nhân không ký hợp đồng hoặc ký hợp đồng dưới 3 tháng là đã phải tiến hành khấu trừ 10% thuế trước khi chi trả. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành có một “lối mở”: nếu cá nhân ước tính tổng thu nhập trong năm chưa đến mức phải nộp thuế, họ có đủ điều kiện làm cam kết để tạm thời chưa bị khấu trừ khoản 10% này.

Tuy nhiên, khi Dự thảo Nghị định hướng dẫn Luật Thuế TNCN 2025 được thông qua, bức tranh pháp lý sẽ hoàn toàn thay đổi:

  • Thứ nhất, nâng hạn mức khấu trừ: Mức thu nhập làm căn cứ để bắt buộc khấu trừ thuế TNCN sẽ được nới lỏng, tăng từ 2 triệu đồng/lần lên thành 3 triệu đồng/lần. Điều này giúp những người lao động có các khoản thu nhập nhỏ lẻ gián đoạn (dưới 3 triệu đồng) nhận được trọn vẹn thù lao mà không bị trừ tiền thuế tại nguồn.
  • Thứ hai, bãi bỏ quy định làm cam kết: Đây là điểm thay đổi mang tính bước ngoặt. Theo đề xuất mới, sẽ không còn quy định về việc làm cam kết để tạm thời chưa khấu trừ thuế. Hệ quả của việc bãi bỏ này là mức khấu trừ 10% sẽ được áp dụng một cách tự động và thống nhất đối với tất cả các khoản chi trả từ 3 triệu đồng/lần trở lên thuộc diện áp dụng, không có ngoại lệ. Người lao động sẽ bị trừ 10% ngay tại thời điểm nhận thu nhập và chỉ có thể nhận lại số tiền này (nếu nộp thừa) thông qua thủ tục quyết toán thuế vào cuối năm.

NÂNG MỨC THU NHẬP VÃNG LAI ĐƯỢC MIỄN QUYẾT TOÁN THUẾ LÊN 15 TRIỆU ĐỒNG/THÁNG

Đi đôi với việc siết chặt khâu khấu trừ tại nguồn bằng cách bỏ bản cam kết, cơ quan soạn thảo cũng đưa ra những quy định mở nhằm giảm bớt gánh nặng thủ tục hành chính cho người nộp thuế trong khâu quyết toán cuối năm.

Theo Điều 51 của Dự thảo Nghị định, có một đề xuất mới rất đáng chú ý liên quan đến điều kiện miễn thực hiện thủ tục quyết toán thuế đối với phần thu nhập vãng lai. Cụ thể, trong trường hợp cá nhân có thu nhập chính từ tiền lương, tiền công, nhưng đồng thời có thêm thu nhập từ tiền lương, tiền công tại các nơi khác (thu nhập vãng lai), cá nhân đó sẽ không bắt buộc phải thực hiện quyết toán thuế đối với phần thu nhập vãng lai này nếu thỏa mãn các điều kiện sau:

  1. Khoản thu nhập vãng lai phát sinh bình quân trong năm không vượt quá 15 triệu đồng/tháng.
  2. Khoản thu nhập này đã bị đơn vị chi trả khấu trừ thuế 10% tại nguồn.
  3. Cá nhân không có nhu cầu quyết toán đối với phần thu nhập này.

Việc nâng ngưỡng thu nhập bình quân từ 10 triệu đồng/tháng (theo quy định hiện hành) lên 15 triệu đồng/tháng là một sự điều chỉnh phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế và mức sống hiện tại. Quy định này giúp một lượng lớn người lao động có thu nhập làm thêm ở mức vừa phải thoát khỏi gánh nặng phải tự đi làm thủ tục quyết toán thuế TNCN phức tạp hàng năm.

QUY ĐỊNH PHÁP LÝ VỀ VIỆC CẤP CHỨNG TỪ KHẤU TRỪ THUẾ TNCN

Khi người lao động bị khấu trừ 10% thuế TNCN từ thu nhập vãng lai, họ có quyền hợp pháp trong việc yêu cầu đơn vị chi trả cấp “Chứng từ khấu trừ thuế”. Chứng từ này là bằng chứng vô cùng quan trọng để người lao động thực hiện thủ tục quyết toán thuế, xin hoàn thuế (nếu nộp thừa) vào cuối năm.

Việc cấp chứng từ này hiện đang được hướng dẫn chi tiết tại khoản 2 Điều 25 Thông tư 111/2013/TT-BTC. Nguyên tắc chung là: Tổ chức, cá nhân trả các khoản thu nhập đã khấu trừ thuế bắt buộc phải cấp chứng từ khấu trừ thuế theo yêu cầu của cá nhân bị khấu trừ. Chỉ có một ngoại lệ duy nhất là không cấp chứng từ khi cá nhân đã ủy quyền cho chính tổ chức đó thực hiện quyết toán thuế thay.

Tuy nhiên, tùy thuộc vào tính chất của hợp đồng lao động, cách thức cấp chứng từ được quy định rất khác nhau, cụ thể như sau:

3.1. Đối với cá nhân không ký hợp đồng lao động hoặc hợp đồng dưới 03 tháng

Đây là nhóm đối tượng phổ biến nhất của thu nhập vãng lai (freelancer, lao động thời vụ). Đối với nhóm này, pháp luật trao cho người lao động quyền được lựa chọn hình thức nhận chứng từ sao cho thuận tiện nhất cho việc lưu trữ và quyết toán của họ.

Cụ thể, cá nhân có quyền yêu cầu tổ chức, cá nhân trả thu nhập thực hiện một trong hai phương án:

  • Cấp chứng từ khấu trừ cho mỗi lần khấu trừ thuế.
  • Cấp một chứng từ khấu trừ gộp chung cho nhiều lần khấu trừ thuế diễn ra trong một kỳ tính thuế.

Ví dụ minh họa thực tế: Ông Q là một lao động tự do. Ông ký hợp đồng dịch vụ với Công ty X để đảm nhận công việc chăm sóc cây cảnh tại khuôn viên của Công ty. Lịch làm việc là một tháng một lần, kéo dài liên tục từ tháng 9/2013 đến tháng 4/2014. Thù lao của ông Q được Công ty X thanh toán đều đặn theo từng tháng với mức là 03 triệu đồng/tháng.

Trong trường hợp này, vì ông Q làm việc theo hợp đồng dịch vụ (không phải hợp đồng lao động dài hạn), ông Q có quyền yêu cầu Công ty X:

  • Cấp chứng từ khấu trừ đều đặn theo từng tháng (mỗi tháng nhận 1 tờ chứng từ).
  • Hoặc, để gọn hồ sơ, ông Q có thể yêu cầu Công ty X cấp 01 chứng từ phản ánh tổng số thuế đã khấu trừ từ tháng 9 đến tháng 12/2013 (cho kỳ tính thuế năm 2013), và 01 chứng từ khác cho khoảng thời gian từ tháng 01 đến tháng 04/2014 (cho kỳ tính thuế năm 2014).

3.2. Đối với cá nhân ký hợp đồng lao động từ 03 tháng trở lên

Khác với nhóm lao động tự do, nhóm người lao động có hợp đồng dài hạn có tính ổn định cao hơn. Do đó, quy định về việc cấp chứng từ cũng được thiết kế tinh gọn lại nhằm giảm thiểu thủ tục giấy tờ cho cả doanh nghiệp và cơ quan thuế.

Pháp luật quy định rõ: Đối với cá nhân đã ký hợp đồng lao động từ đủ ba (03) tháng trở lên, tổ chức/cá nhân trả thu nhập chỉ cấp cho cá nhân một chứng từ khấu trừ duy nhất trong một kỳ tính thuế.

Ví dụ minh họa thực tế: Ông R ký hợp đồng lao động dài hạn với Công ty Y. Thời hạn hợp đồng kéo dài từ tháng 9/2013 đến hết tháng 8/2014.

Trong trường hợp này, nếu ông R thuộc đối tượng phải tự mình đi quyết toán thuế trực tiếp với cơ quan thuế nhà nước và có yêu cầu Công ty Y cấp chứng từ khấu trừ cho mình, Công ty Y sẽ thực hiện cấp chứng từ như sau:

  • Cấp 01 chứng từ phản ánh toàn bộ số thuế đã khấu trừ từ tháng 9 đến hết tháng 12/2013 (kỳ tính thuế năm 2013).
  • Cấp 01 chứng từ phản ánh toàn bộ số thuế đã khấu trừ cho thời gian làm việc từ tháng 01 đến hết tháng 8/2014 (kỳ tính thuế năm 2014).

Như vậy, doanh nghiệp không được phép và không có nghĩa vụ phải cấp chứng từ lắt nhắt theo từng tháng cho ông R.

CÁCH XÁC ĐỊNH THUẾ TNCN ĐỐI VỚI THU NHẬP TỪ TIỀN LƯƠNG, TIỀN CÔNG MỚI NHẤT NĂM 2026

Để hiểu rõ cách dòng tiền của mình bị đánh thuế như thế nào, người lao động cần nắm vững công thức xác định thuế TNCN từ tiền lương, tiền công. Điều này đã được quy định rất bài bản và chi tiết tại Điều 8 Luật Thuế thu nhập cá nhân 2025.

Dưới đây là các bước và nguyên tắc xác định thuế TNCN đối với cá nhân cư trú:

4.1. Công thức tính thuế cơ bản

Căn cứ khoản 1 Điều 8 Luật Thuế thu nhập cá nhân 2025, thuế TNCN đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công của một cá nhân cư trú (không phân biệt nơi người đó được trả thu nhập) được xác định bằng công thức sau:

Thuế thu nhập cá nhân = Thu nhập tính thuế x Thuế suất tại Biểu thuế lũy tiến từng phần.

(Lưu ý: Biểu thuế lũy tiến từng phần được quy định cụ thể tại Điều 9 của Luật Thuế thu nhập cá nhân 2025, áp dụng các mức thuế suất tăng dần dựa trên từng bậc thu nhập).

4.2. Phương pháp xác định “Thu nhập tính thuế”

Đây là bước phức tạp nhất trong quá trình tính thuế. Thu nhập tính thuế không phải là toàn bộ số tiền mà người lao động nhận được, mà là phần thu nhập còn lại sau khi đã trừ đi các khoản được phép giảm trừ hợp pháp.

Cụ thể, theo khoản 2 Điều 8 Luật Thuế thu nhập cá nhân 2025, Thu nhập tính thuế đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công được xác định bằng:

  • Tổng thu nhập chịu thuế: Là toàn bộ các khoản thu nhập quy định tại khoản 2 Điều 3 Luật Thuế thu nhập cá nhân 2025 mà người nộp thuế thực tế nhận được trong kỳ tính thuế.
  • Trừ (-) đi các khoản đóng góp bảo hiểm bắt buộc và các quỹ hợp pháp: Bao gồm bảo hiểm xã hội (BHXH), bảo hiểm y tế (BHYT), bảo hiểm thất nghiệp (BHTN), và bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp đối với một số ngành, nghề bắt buộc phải tham gia.
  • Trừ (-) đi các khoản đóng góp hưu trí và nhân thọ: Bao gồm khoản đóng góp tham gia bảo hiểm hưu trí bổ sung theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội, tiền mua bảo hiểm hưu trí tự nguyện, và bảo hiểm nhân thọ (nhưng mức trừ không được vượt quá mức giới hạn do Chính phủ quy định).
  • Trừ (-) đi các khoản giảm trừ: Bao gồm giảm trừ gia cảnh (cho bản thân và người phụ thuộc), giảm trừ đóng góp từ thiện, nhân đạo, khuyến học được quy định chi tiết tại Điều 10 và Điều 11 Luật Thuế thu nhập cá nhân 2025.

4.3. Thời điểm xác định thu nhập tính thuế

Một yếu tố pháp lý quan trọng khác là xác định đúng thời điểm tính thuế để áp dụng đúng kỳ quyết toán. Theo khoản 3 Điều 8 Luật Thuế thu nhập cá nhân 2025, thời điểm xác định thu nhập tính thuế từ tiền lương, tiền công là thời điểm tổ chức, cá nhân trả thu nhập cho người nộp thuế, hoặc thời điểm người nộp thuế thực tế nhận được khoản thu nhập đó. Quy định này áp dụng nguyên tắc “thực thu – thực chi”, giúp tránh tình trạng người lao động bị tính thuế cho những khoản tiền công bị doanh nghiệp nợ đọng, chưa thanh toán.

KẾT LUẬN

Có thể thấy, việc quy định nâng hạn mức thu nhập vãng lai lên mức 3 triệu đồng/lần mới bắt buộc phải khấu trừ 10% thuế TNCN theo Dự thảo Nghị định hướng dẫn Luật Thuế TNCN 2025 (dự kiến áp dụng từ 01/7/2026) là một bước tiến quan trọng. Điều này thể hiện sự điều chỉnh linh hoạt của pháp luật thuế nhằm phù hợp với sự gia tăng thu nhập thực tế của người dân trong bối cảnh nền kinh tế mới.

Tuy nhiên, sự đánh đổi lớn nhất là việc người lao động không còn được phép làm bản cam kết để trì hoãn việc khấu trừ thuế. Bất kỳ khoản chi trả nào từ 3 triệu đồng/lần trở lên đối với lao động không có hợp đồng dài hạn đều sẽ bị trừ thẳng 10% tại nguồn một cách thống nhất. Cùng với việc nới lỏng hạn mức không bắt buộc quyết toán lên 15 triệu đồng/tháng, các quy định mới sẽ định hình lại thói quen quản lý tài chính và tuân thủ thuế của hàng triệu lao động tự do và doanh nghiệp tại Việt Nam.

Để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình, người lao động cần chủ động yêu cầu đơn vị chi trả cấp chứng từ khấu trừ thuế đầy đủ và hợp lệ, đồng thời nắm vững các công thức tính thuế thu nhập cá nhân để sẵn sàng cho công tác quyết toán thuế, đảm bảo không bị thiệt thòi về dòng tiền tích lũy của bản thân.


Bài viết có sự tham khảo từ: https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn/nghi-dinh-so-54-2026-nd-cp-quy-dinh-moi-ve-mua-ban-thue-mua-cho-thue-gia-nha-o-xa-hoi-119260220165054643.htm

Tham khảo thêm bài viết của chúng tôi: https://htllaw.com.vn/nga-nghien-cuu-mien-thi-thuc-cho-cong-dan-viet-nam

Back to Top
Gọi ngay
Tổng đài tư vấn pháp luật miễn phí: 1900 5074