Quy định của pháp luật về thời hiệu khởi kiện giải quyết tranh chấp dân sự, kinh doanh thương mại và lao động 2025

Quy định của pháp luật về thời hiệu khởi kiện giải quyết tranh chấp dân sự, kinh doanh thương mại và lao động 2025
Table of Contents

Quy định của pháp luật về thời hiệu khởi kiện giải quyết tranh chấp dân sự, kinh doanh thương mại và lao động 2025

Trong quá trình tham gia các quan hệ dân sự, kinh doanh thương mại và lao động, việc phát sinh tranh chấp là điều khó tránh khỏi. Khi quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm, cá nhân, tổ chức có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền giải quyết nhằm bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình. Tuy nhiên, pháp luật không cho phép quyền này được thực hiện vô thời hạn mà quy định một khoảng thời gian nhất định – gọi là thời hiệu.

Việc không nắm rõ quy định về thời hiệu có thể dẫn đến hậu quả pháp lý nghiêm trọng, đó là mất quyền khởi kiện hoặc quyền yêu cầu, dù quyền và lợi ích hợp pháp thực tế đã bị xâm phạm. Do đó, hiểu đúng và áp dụng chính xác các quy định về thời hiệu là vấn đề đặc biệt quan trọng đối với cá nhân, doanh nghiệp và người lao động.

1. Khái niệm và ý nghĩa pháp lý của thời hiệu

Theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015, thời hiệu là thời hạn do luật quy định mà khi kết thúc thời hạn đó thì phát sinh hậu quả pháp lý đối với chủ thể theo điều kiện do luật định. Hậu quả pháp lý có thể là việc phát sinh quyền, được miễn trừ nghĩa vụ hoặc mất quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp.

Trong đời sống pháp lý, thời hiệu có ý nghĩa quan trọng trong việc:

  • Bảo đảm sự ổn định của các quan hệ pháp luật;

  • Khuyến khích các chủ thể chủ động bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình;

  • Tránh tình trạng tranh chấp kéo dài không giới hạn về mặt thời gian.

2. Các loại thời hiệu theo quy định của pháp luật dân sự

Bộ luật Dân sự năm 2015 phân chia thời hiệu thành nhiều loại khác nhau, trong đó có các loại thời hiệu cơ bản sau:

2.1. Thời hiệu hưởng quyền dân sự và thời hiệu miễn trừ nghĩa vụ dân sự

Thời hiệu hưởng quyền dân sự là thời hạn mà khi kết thúc thời hạn đó, chủ thể được xác lập quyền dân sự theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, không phải mọi quyền dân sự đều có thể phát sinh theo thời hiệu mà chỉ áp dụng đối với các trường hợp pháp luật có quy định cụ thể.

Thời hiệu miễn trừ nghĩa vụ dân sự là thời hạn mà khi kết thúc, người có nghĩa vụ được miễn thực hiện nghĩa vụ dân sự đó. Khi hết thời hiệu, nghĩa vụ dân sự chấm dứt theo quy định của pháp luật.

Pháp luật không áp dụng thời hiệu hưởng quyền dân sự đối với quyền nhân thân không gắn với tài sản và đối với trường hợp chiếm hữu tài sản thuộc sở hữu toàn dân không có căn cứ pháp luật.

2.2. Thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự và thời hiệu yêu cầu giải quyết việc dân sự

Thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự là khoảng thời gian mà chủ thể được quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Khi thời hiệu kết thúc mà không khởi kiện, chủ thể sẽ mất quyền khởi kiện.

Thời hiệu yêu cầu giải quyết việc dân sự là thời hạn mà chủ thể được quyền yêu cầu Tòa án giải quyết các việc dân sự để bảo vệ lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức hoặc lợi ích công cộng.

Thời hiệu khởi kiện không được áp dụng chung cho mọi quan hệ dân sự mà được quy định riêng cho từng loại quan hệ cụ thể, như tranh chấp thừa kế, hợp đồng, bồi thường thiệt hại, giao dịch dân sự vô hiệu.

3. Các trường hợp không áp dụng thời hiệu khởi kiện

Pháp luật dân sự quy định một số trường hợp không áp dụng thời hiệu khởi kiện, nhằm bảo đảm tối đa quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể, bao gồm:

  • Yêu cầu bảo vệ quyền nhân thân không gắn với tài sản;

  • Yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu đối với tài sản, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác;

  • Tranh chấp về quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật đất đai;

  • Các trường hợp khác do luật chuyên ngành quy định.

Những trường hợp này cho phép chủ thể yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền lợi không phụ thuộc vào yếu tố thời gian, thể hiện tính nhân văn và bảo vệ quyền con người trong pháp luật Việt Nam.

4. Thời gian không tính vào thời hiệu khởi kiện

Không phải toàn bộ khoảng thời gian từ khi quyền bị xâm phạm đến khi khởi kiện đều được tính vào thời hiệu. Pháp luật quy định một số khoảng thời gian không tính vào thời hiệu, như:

  • Thời gian xảy ra sự kiện bất khả kháng;

  • Thời gian tồn tại trở ngại khách quan làm cho chủ thể không thể thực hiện quyền khởi kiện;

  • Thời gian chưa có người đại diện hợp pháp đối với người chưa thành niên hoặc người mất năng lực hành vi dân sự;

  • Thời gian chưa có người đại diện khác thay thế khi người đại diện chấm dứt tồn tại hoặc không thể tiếp tục đại diện.

Các khoảng thời gian này được loại trừ nhằm bảo đảm quyền khởi kiện không bị tước bỏ một cách bất hợp lý.

5. Bắt đầu lại thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự

Trong một số trường hợp, thời hiệu khởi kiện được bắt đầu lại, cụ thể khi:

  • Bên có nghĩa vụ thừa nhận toàn bộ hoặc một phần nghĩa vụ;

  • Bên có nghĩa vụ đã thực hiện một phần nghĩa vụ;

  • Các bên đã tự hòa giải với nhau.

Thời hiệu khởi kiện sẽ được tính lại từ ngày tiếp theo sau ngày xảy ra một trong các sự kiện trên.

6. Thời hiệu khởi kiện tranh chấp trong kinh doanh thương mại

Theo khoản 3 Điều 150 Bộ luật Dân sự 2015 có định nghĩa về thời hiệu khởi kiện.

Theo đó, đối với các vụ án kinh doanh thương mại, thời hiệu khởi kiện sẽ là thời hạn mà pháp luật cho phép chủ thể được quyền khởi kiện để yêu cầu Toà án giải quyết vụ án kinh doanh thương mại bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm.

Nếu thời hạn đó kết thúc thì mất quyền khởi kiện, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Đối với các tranh chấp kinh doanh thương mại mà văn bản quy phạm pháp luật có quy định về thời hiệu khởi kiện (được thực hiện theo yêu cầu của đương sự) thì áp dụng thời hiệu khởi kiện được xác định trong văn bản quy phạm pháp luật đó.

Thời điểm bắt đầu thời hiệu khởi kiện được tính kể từ ngày quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức, lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước bị xâm phạm và được xác định như sau:

+ Đối với nghĩa vụ dân sự mà các bên có thoả thuận hoặc pháp luật có quy định thời hạn thực hiện, nếu hết thời hạn đó mà bên có nghĩa vụ không thực hiện, thì ngày hết hạn thực hiện nghĩa vụ là ngày xảy ra xâm phạm;

+ Đối với nghĩa vụ dân sự mà các bên không thoả thuận hoặc pháp luật không quy định thời hạn thực hiện, nhưng theo quy định của pháp luật các bên có thể thực hiện nghĩa vụ hoặc yêu cầu thực hiện nghĩa vụ bất cứ lúc nào nhưng phải thông báo cho nhau biết trước trong một thời gian hợp lý, nếu hết thời hạn đã được thông báo đó bên có nghĩa vụ không thực hiện, thì ngày hết thời hạn đã được thông báo là ngày xảy ra xâm phạm.

7. Thời hiệu khởi kiện tranh chấp lao động

Tranh chấp lao động phát sinh giữa người lao động và người sử dụng lao động trong quá trình xác lập, thực hiện hoặc chấm dứt quan hệ lao động.

Theo Bộ luật Lao động năm 2019:

  • Thời hiệu yêu cầu giải quyết tranh chấp lao động cá nhân là 01 năm, kể từ ngày phát hiện hành vi xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp;

  • Thời hiệu yêu cầu giải quyết tranh chấp lao động tập thể về quyền cũng là 01 năm kể từ ngày phát hiện hành vi vi phạm.

Thời hiệu trong tranh chấp lao động tương đối ngắn, đòi hỏi người lao động và người sử dụng lao động phải chủ động, kịp thời thực hiện quyền yêu cầu giải quyết tranh chấp để tránh mất quyền lợi.

8. Kết luận và khuyến nghị pháp lý

Thời hiệu là một chế định pháp lý quan trọng, có ảnh hưởng trực tiếp đến quyền khởi kiện và yêu cầu giải quyết tranh chấp của cá nhân, tổ chức. Việc không nắm rõ hoặc áp dụng sai quy định về thời hiệu có thể dẫn đến hậu quả mất quyền yêu cầu dù quyền lợi thực tế bị xâm phạm.

Để bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của mình, các cá nhân, doanh nghiệp và người lao động nên chủ động tham vấn ý kiến luật sư ngay khi phát sinh tranh chấp, nhằm xác định chính xác thời hiệu áp dụng và phương án xử lý phù hợp.


Bài viết tham khảo Luật Căn cước 2023 tại website Thư Viện Pháp Luật

Tham khảo thêm bài viết của chúng tôi: https://htllaw.com.vn/nguoi-lao-dong-bi-khuyet-tat-rut-ngan-thoi-gian-lam

Back to Top
Gọi ngay
Tổng đài tư vấn pháp luật miễn phí: 1900 5074