Nghị định 96/2026/NĐ-CP chính thức cho phép Nhà đầu tư nước ngoài (NĐTNN) thành lập tổ chức kinh tế trước khi xin Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư (IRC). Bài viết phân tích chuyên sâu cơ chế đột phá này, thời hạn “vàng” 12 tháng, tính linh hoạt của vốn và những lưu ý pháp lý sống còn để NĐTNN gia nhập thị trường Việt Nam an toàn, nhanh chóng.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và dòng vốn dịch chuyển mạnh mẽ, việc tối ưu hóa thủ tục hành chính luôn là ưu tiên hàng đầu của các quốc gia nhằm thu hút nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Tại Việt Nam, một trong những “nút thắt” lớn nhất đối với nhà đầu tư nước ngoài trước đây là quy trình “con gà và quả trứng”: Phải có Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư (IRC) mới được lập công ty (ERC), nhưng để xin IRC lại cần ký hợp đồng thuê đất, thuê văn phòng trong khi chưa có tư cách pháp nhân.
Vấn đề nan giải này đã chính thức được tháo gỡ hoàn toàn nhờ sự ra đời của Nghị định 96/2026/NĐ-CP (có hiệu lực từ ngày 31/03/2026). Dưới đây là bài phân tích pháp lý chuyên sâu về cơ chế “Thành lập pháp nhân trước – Xin dự án sau”, giúp các doanh nghiệp, luật sư và nhà đầu tư nắm bắt trọn vẹn tinh thần của luật mới.
ĐƠN GIẢN HÓA HỒ SƠ: CƠ CHẾ “CAM KẾT ĐÁP ỨNG ĐIỀU KIỆN TIẾP CẬN THỊ TRƯỜNG”
Vấn đề pháp lý đặt ra là: Khi lược bỏ khâu thẩm định cấp IRC ban đầu, cơ chế quản lý nhà nước đối với việc đáp ứng điều kiện tiếp cận thị trường của NĐTNN đối với ngành, nghề dự kiến kinh doanh sẽ được kiểm soát như thế nào?
Nhằm giải quyết vấn đề này, nhà làm luật đã chuyển đổi phương thức quản lý từ “tiền kiểm” sang “hậu kiểm”, đề cao nguyên tắc tự kê khai, tự chịu trách nhiệm của doanh nghiệp. Cụ thể, khoản 3 Điều 72 Nghị định 96/2026/NĐ-CP quy định:
“Trường hợp nhà đầu tư nước ngoài thành lập tổ chức kinh tế trước khi thực hiện thủ tục cấp, điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư theo quy định tại khoản 1 Điều này, Giấy đề nghị đăng ký doanh nghiệp bao gồm nội dung cam kết đáp ứng điều kiện tiếp cận thị trường đối với nhà đầu tư nước ngoài theo quy định của pháp luật”.
Theo đó, để thay thế cho bộ hồ sơ giải trình năng lực phức tạp, NĐTNN chỉ cần ghi nhận nội dung “Cam kết” ngay trong Giấy đề nghị đăng ký doanh nghiệp.
Về mặt pháp lý, cam kết này là sự xác nhận của NĐTNN về việc ngành, nghề dự kiến đăng ký kinh doanh không nằm trong Mục A Phụ lục I – Danh mục ngành, nghề chưa được tiếp cận thị trường (bao gồm các lĩnh vực như kinh doanh hàng hóa thực hiện độc quyền nhà nước, hoạt động báo chí, dịch vụ nổ mìn, nhập khẩu phá dỡ tàu biển đã qua sử dụng…).
Đồng thời, NĐTNN tự chịu trách nhiệm về việc đáp ứng đầy đủ các điều kiện đối với các lĩnh vực thuộc Mục B Phụ lục I – Danh mục ngành, nghề tiếp cận thị trường có điều kiện đối với nhà đầu tư nước ngoài theo quy định tại Nghị định này
THỜI HẠN 12 THÁNG VÀ CÁC GIỚI HẠN PHÁP LÝ KHI CHƯA ĐƯỢC CẤP GIẤY CHỨNG NHẬN ĐĂNG KÝ ĐẦU TƯ
Cơ chế cho phép thành lập tổ chức kinh tế trước không đồng nghĩa với việc miễn trừ nghĩa vụ thực hiện thủ tục đầu tư đối với nhà đầu tư nước ngoài (NĐTNN). Nhằm thiết lập cơ chế kiểm soát rủi ro và ngăn chặn tình trạng lạm dụng chính sách để thành lập pháp nhân mà không triển khai dự án, khoản 4 Điều 72 Nghị định 96/2026/NĐ-CP đã quy định chặt chẽ các giới hạn pháp lý buộc doanh nghiệp phải tuân thủ. Cụ thể bao gồm 03 giới hạn sau đây:
Thứ nhất, giới hạn về thời hạn thực hiện thủ tục đầu tư:
Trong thời hạn 12 tháng kể từ ngày thành lập tổ chức kinh tế theo quy định (ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp), tổ chức kinh tế này chịu trách nhiệm bắt buộc phải hoàn thành thủ tục để được cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư (IRC) cho dự án. Đây là thời hạn luật định mang tính bắt buộc.
Việc không tuân thủ mốc thời gian này có thể dẫn đến các chế tài xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đầu tư, hoặc pháp nhân có nguy cơ đối mặt với các biện pháp xử lý thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp.
Thứ hai, giới hạn về quyền triển khai dự án:
Mặc dù tổ chức kinh tế đã được cấp tư cách pháp nhân để thực hiện các công tác chuẩn bị ban đầu, pháp luật nghiêm cấm việc triển khai dự án trên thực tế khi chưa hoàn tất thủ tục đầu tư. Cụ thể, khoản 4 Điều 72 quy định rõ tổ chức kinh tế chỉ được phép chính thức thực hiện dự án đầu tư sau khi đã hoàn thành thủ tục cấp, điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư.
Điều này đồng nghĩa với việc các hoạt động cốt lõi phát sinh doanh thu, vận hành thương mại quy mô lớn bắt buộc phải chờ đến khi dự án được cơ quan nhà nước phê duyệt hợp pháp.
Thứ ba, giới hạn về quyền bổ sung ngành, nghề kinh doanh:
Pháp luật thiết lập cơ chế hạn chế quyền tự do mở rộng ngành nghề của doanh nghiệp trong giai đoạn chờ cấp IRC. Theo đó, tổ chức kinh tế chỉ được quyền điều chỉnh nội dung đăng ký doanh nghiệp để bổ sung ngành, nghề đầu tư kinh doanh khác SAU KHI đã được cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư.
Quy định này nhằm khóa chặt rủi ro NĐTNN lách luật, sử dụng “Cam kết” đối với một ngành nghề thông thường để dễ dàng lấy Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, sau đó tự ý bổ sung các ngành, nghề thuộc danh mục hạn chế tiếp cận thị trường khi chưa có sự thẩm định của cơ quan đăng ký đầu tư.
CƠ CẤU TÀI CHÍNH: SỰ ĐỘC LẬP GIỮA VỐN ĐIỀU LỆ VÀ VỐN ĐẦU TƯ THỰC HIỆN DỰ ÁN
Một chế định quan trọng khác góp phần giải quyết vướng mắc thực tiễn liên quan đến cơ cấu vốn của NĐTNN khi gia nhập thị trường Việt Nam được quy định tại khoản 5 Điều 72 Nghị định 96/2026/NĐ-CP.
Thay vì yêu cầu vốn điều lệ phải tương đương hoặc chiếm một tỷ lệ trọng yếu so với tổng vốn đầu tư của dự án như thực tiễn áp dụng trước đây – vốn tạo ra áp lực huy động tài chính khổng lồ cho nhà đầu tư trong giai đoạn khởi tạo dự án.
Nay, pháp luật hiện hành đã khẳng định nguyên tắc linh hoạt về cấu trúc vốn: Vốn điều lệ của tổ chức kinh tế do nhà đầu tư nước ngoài thành lập để thực hiện dự án đầu tư không nhất thiết phải bằng vốn đầu tư của dự án đầu tư.
Căn cứ quy định này, NĐTNN được quyền chủ động cấu trúc tài chính theo chiến lược phân bổ nguồn vốn, cụ thể:
- Đăng ký mức Vốn điều lệ phù hợp để duy trì hoạt động quản trị, vận hành của pháp nhân trong giai đoạn tiền dự án (như chi trả lương, thuê trụ sở, nghiên cứu thị trường).
- Xác định và khai báo mức Tổng vốn đầu tư tương xứng với quy mô thực tế của dự án trong hồ sơ đề nghị cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư sau đó.
- Tổ chức kinh tế do nhà đầu tư nước ngoài thành lập có trách nhiệm thực hiện việc góp vốn và huy động các nguồn vốn hợp pháp khác (tín dụng thương mại, vay công ty mẹ ở nước ngoài) để thực hiện dự án theo đúng tiến độ được quy định tại Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư.
QUYỀN LỢI PHÁP LÝ SAU KHI ĐƯỢC CẤP GIẤY CHỨNG NHẬN ĐĂNG KÝ ĐẦU TƯ: CƠ CHẾ MỞ RỘNG HOẠT ĐỘNG CHO TỔ CHỨC KINH TẾ CÓ VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI
Sau khi tuân thủ nghiêm ngặt thời hạn luật định và hoàn thành thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư (IRC), tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài sẽ bước vào giai đoạn vận hành thương mại và được áp dụng cơ chế pháp lý mở rộng hoạt động vô cùng thuận lợi theo quy định tại Điều 73 Nghị định 96/2026/NĐ-CP. Cụ thể bao gồm các đặc quyền sau:
Quyền điều chỉnh, bổ sung ngành, nghề kinh doanh:
Căn cứ khoản 1 Điều 73, sau khi đã hoàn thành thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài được quyền tiến hành thủ tục điều chỉnh nội dung đăng ký doanh nghiệp tại cơ quan đăng ký kinh doanh để bổ sung ngành nghề mới mà không nhất thiết phải lập một dự án đầu tư mới.
Điều kiện ràng buộc mang tính nguyên tắc là việc bổ sung ngành, nghề kinh doanh này phải bảo đảm phù hợp với các điều kiện tiếp cận thị trường đối với nhà đầu tư nước ngoài (nếu có) theo quy định của pháp luật.
Quyền mở rộng mạng lưới đơn vị phụ thuộc không gắn với dự án mới:
Căn cứ khoản 2 Điều 73, sau khi hoàn thành thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài được trao quyền tự lập chi nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm kinh doanh ngoài trụ sở chính mà không bị bắt buộc phải xác lập dự án đầu tư mới cho các địa điểm này.
Hồ sơ, trình tự và thủ tục thành lập các đơn vị phụ thuộc nêu trên sẽ được thực hiện hoàn toàn theo quy định của pháp luật về doanh nghiệp và pháp luật tương ứng với từng loại hình tổ chức kinh tế. Chế định pháp lý thông thoáng này chính là đòn bẩy trọng yếu, giúp các tổ chức kinh tế FDI (đặc biệt là các doanh nghiệp hoạt động theo mô hình chuỗi, bán lẻ) dễ dàng bành trướng quy mô và thiết lập mạng lưới thương mại tại thị trường Việt Nam.
KẾT LUẬN
Sự ra đời của Nghị định 96/2026/NĐ-CP, đặc biệt là cơ chế tại Điều 72 cho phép “Lập pháp nhân trước – Xin IRC sau”, là một bước tiến lập pháp mang tính đột phá, thể hiện sự lắng nghe và thấu hiểu sâu sắc của Chính phủ đối với cộng đồng doanh nghiệp FDI.
Cơ chế này không chỉ tháo gỡ hoàn toàn nút thắt về tư cách pháp nhân ban đầu, giảm thiểu chi phí cơ hội, tối ưu hóa dòng vốn điều lệ, mà còn đánh dấu sự chuyển mình mạnh mẽ từ nền hành chính “tiền kiểm” sang tư duy “hậu kiểm” thông thoáng.
Tuy nhiên, quyền lợi luôn đi kèm với trách nhiệm. Lời cam kết đáp ứng điều kiện tiếp cận thị trường và giới hạn nghiêm ngặt 12 tháng chính là những lằn ranh đỏ pháp lý. Các nhà đầu tư nước ngoài cần trang bị cho mình đội ngũ cố vấn pháp lý chuyên nghiệp để rà soát kỹ lưỡng, đảm bảo tuân thủ tuyệt đối lộ trình, từ đó biến những chính sách cởi mở này thành đòn bẩy vững chắc để thành công tại thị trường Việt Nam.
Bài viết có sự tham khảo từ: https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Dau-tu/Nghi-dinh-96-2026-ND-CP-huong-dan-Luat-Dau-tu-690303.aspx
Tham khảo thêm bài viết của chúng tôi: https://htllaw.com.vn/12-tan-kitkat-bi-cuop-lua-chon-incoterms-2020