I. Đặt vấn đề
Trong thực tiễn tố tụng hình sự, không ít trường hợp vụ án đã được Cơ quan điều tra cấp tỉnh tiến hành điều tra và ban hành Kết luận điều tra, nhưng khi chuyển sang giai đoạn truy tố và xét xử lại phát sinh vướng mắc trong việc xác định Tòa án có thẩm quyền xét xử sơ thẩm.
Nhiều người cho rằng đã do Cơ quan điều tra cấp tỉnh thụ lý thì đương nhiên Tòa án nhân dân cấp tỉnh sẽ xét xử. Tuy nhiên, nhận định này không hoàn toàn chính xác theo quy định mới của Bộ luật Tố tụng hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2025.
Bài viết dưới đây sẽ phân tích một cách hệ thống và có căn cứ pháp lý để làm rõ các vấn đề sau đây
Vụ án do Cơ quan điều tra cấp tỉnh điều tra thì thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án nào
Trường hợp nào thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân cấp tỉnh và trường hợp nào thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân khu vực
II. Căn cứ pháp lý xác định mối quan hệ giữa thẩm quyền điều tra và thẩm quyền xét xử
1. Quy định về thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra cấp tỉnh
Theo khoản 20 Điều 20 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, quy định
a) Cơ quan điều tra cấp tỉnh điều tra vụ án hình sự về những tội phạm thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân cấp tỉnh và Tòa án nhân dân khu vực
b) Cơ quan điều tra quân sự khu vực điều tra vụ án hình sự về những tội phạm thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự khu vực Cơ quan điều tra quân sự cấp quân khu điều tra vụ án hình sự về những tội phạm thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự cấp quân khu hoặc những vụ án thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra quân sự khu vực nếu xét thấy cần trực tiếp điều tra
Từ quy định trên có thể thấy rằng pháp luật tố tụng hình sự không đồng nhất thẩm quyền điều tra với thẩm quyền xét xử. Ngược lại, pháp luật xác định rõ một vụ án do Cơ quan điều tra cấp tỉnh tiến hành điều tra có thể thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân cấp tỉnh hoặc Tòa án nhân dân khu vực.
Như vậy, Kết luận điều tra của Cơ quan điều tra cấp tỉnh không phải là căn cứ duy nhất để xác định thẩm quyền xét xử của Tòa án.
III. Thẩm quyền xét xử sơ thẩm theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2025
1. Quy định chung tại Điều 268 Bộ luật Tố tụng hình sự
Theo khoản 31 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2025, Điều 268 được sửa đổi, bổ sung như sau
Tòa án nhân dân khu vực xét xử sơ thẩm những vụ án hình sự về tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật Hình sự quy định đến 20 năm tù.
Từ quy định này có thể khẳng định tiêu chí cốt lõi để xác định thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân khu vực là mức cao nhất của khung hình phạt theo quy định của Bộ luật Hình sự, không phụ thuộc vào việc vụ án do Cơ quan điều tra cấp huyện hay cấp tỉnh tiến hành điều tra.
2. Thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân cấp tỉnh
Theo khoản 2 Điều 268 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2025, Tòa án nhân dân cấp tỉnh xét xử sơ thẩm trong các trường hợp sau
a) Vụ án hình sự về các tội phạm không thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân khu vực
b) Vụ án hình sự thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân khu vực nhưng có nhiều tình tiết phức tạp, liên quan đến nhiều cấp, nhiều ngành, dư luận xã hội đặc biệt quan tâm vụ án mà khi xử lý có ảnh hưởng đến chính trị, đối ngoại hoặc vụ án mà người phạm tội là cán bộ lãnh đạo chủ chốt từ cấp tỉnh trở lên, người có chức sắc trong tôn giáo hoặc người có uy tín cao trong dân tộc thiểu số
Việc xác định thế nào là vụ án có nhiều tình tiết phức tạp không mang tính chủ quan mà phải căn cứ vào hướng dẫn của cơ quan có thẩm quyền.
IV. Xác định “vụ án có nhiều tình tiết phức tạp” theo hướng dẫn tại Thông tư liên tịch số 03/TTLT-TANDTC-VKSNDTC
Khoản 2 Điều 268 Bộ luật Tố tụng hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2025 sử dụng nhiều khái niệm mang tính định tính như “vụ án có nhiều tình tiết phức tạp”, “vụ án có ảnh hưởng đến chính trị, đối ngoại”, “người phạm tội là cán bộ lãnh đạo chủ chốt từ cấp tỉnh trở lên”, “người có chức sắc trong tôn giáo”, “người có uy tín cao trong dân tộc thiểu số”.
Để bảo đảm việc áp dụng thống nhất các quy định này trong thực tiễn, Tòa án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã ban hành Thông tư liên tịch số 03/TTLT-TANDTC-VKSNDTC, trong đó giải thích cụ thể nội hàm của từng khái niệm nêu trên. Đây là căn cứ pháp lý trực tiếp và bắt buộc khi xem xét việc “rút” một vụ án từ thẩm quyền của Tòa án nhân dân khu vực lên Tòa án nhân dân cấp tỉnh xét xử sơ thẩm.
1. Vụ án có nhiều tình tiết phức tạp, liên quan đến nhiều cấp, nhiều ngành, dư luận xã hội đặc biệt quan tâm
Theo Thông tư liên tịch số 03, vụ án được coi là có nhiều tình tiết phức tạp khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Vụ án có đủ các dấu hiệu về nội dung và phạm vi ảnh hưởng
Vụ án thuộc trường hợp này khi đồng thời có các yếu tố như:
-
Liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp của nhiều người;
-
Tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án có nhiều mâu thuẫn, cần phải kiểm tra, xác minh, đánh giá và xử lý phức tạp;
-
Hành vi phạm tội được thực hiện trên phạm vi địa bàn từ hai tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trở lên;
-
Có tác động đến nhiều ngành, nhiều lĩnh vực khác nhau;
-
Gây hoang mang, lo lắng, bất bình trong quần chúng nhân dân.
Đây là nhóm tiêu chí phản ánh mức độ phức tạp tổng hợp của vụ án cả về nội dung pháp lý, phạm vi không gian và mức độ ảnh hưởng xã hội. Đối với các vụ án này, việc giao cho Tòa án nhân dân cấp tỉnh xét xử sơ thẩm nhằm bảo đảm năng lực tổ chức xét xử, khả năng điều phối và đánh giá chứng cứ một cách toàn diện, thận trọng.
b) Vụ án thuộc diện Ban Chỉ đạo Trung ương hoặc Ban Chỉ đạo cấp tỉnh theo dõi, chỉ đạo
Thông tư liên tịch số 03 xác định rõ: những vụ án thuộc diện Ban Chỉ đạo Trung ương hoặc Ban Chỉ đạo cấp tỉnh về phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực theo dõi, chỉ đạo thì được coi là vụ án có nhiều tình tiết phức tạp theo nghĩa của điểm b khoản 2 Điều 268 BLTTHS.
Đối với các vụ án này, việc giao thẩm quyền xét xử sơ thẩm cho Tòa án nhân dân cấp tỉnh nhằm đáp ứng yêu cầu chính trị – pháp lý, bảo đảm sự chỉ đạo tập trung, thống nhất và nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực.
c) Trường hợp đặc biệt về tình trạng pháp lý của bị cáo
Một trường hợp đặc biệt khác được Thông tư liên tịch số 03 quy định là khi:
-
Bị cáo bị truy tố về một hoặc một số tội thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân khu vực;
-
Nhưng sau khi Tòa án đã thụ lý vụ án thì phát hiện bị cáo đã bị áp dụng hình phạt tù chung thân hoặc tử hình tại một bản án khác đã có hiệu lực pháp luật.
Trong trường hợp này, dù về nguyên tắc ban đầu vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân khu vực, nhưng để bảo đảm tính thống nhất trong đánh giá nhân thân người phạm tội và tính nghiêm minh của pháp luật hình sự, vụ án được xác định thuộc thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Tòa án nhân dân cấp tỉnh.
2. Vụ án mà khi xử lý có ảnh hưởng đến chính trị, đối ngoại
Thông tư liên tịch số 03 giải thích rằng “vụ án mà khi xử lý có ảnh hưởng đến chính trị, đối ngoại” là vụ án mà việc giải quyết có tác động hoặc ảnh hưởng đến:
-
Chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước;
-
Quan hệ đối ngoại;
-
Uy tín, vị thế của Đảng và Nhà nước trên trường quốc tế.
Đây là những vụ án có tính nhạy cảm cao, không chỉ thuần túy là vấn đề pháp lý mà còn liên quan trực tiếp đến lợi ích quốc gia, dân tộc. Do đó, việc giao thẩm quyền xét xử sơ thẩm cho Tòa án nhân dân cấp tỉnh là cần thiết để bảo đảm sự cân nhắc toàn diện cả về pháp lý, chính trị và đối ngoại.
3. Vụ án mà người phạm tội là cán bộ lãnh đạo chủ chốt từ cấp tỉnh trở lên
Theo hướng dẫn tại Thông tư liên tịch số 03, người phạm tội được coi là cán bộ lãnh đạo chủ chốt từ cấp tỉnh trở lên nếu thuộc một trong các trường hợp sau:
-
Giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý từ cấp phó trở lên của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tỉnh;
-
Là bí thư, phó bí thư cấp ủy cấp tỉnh, ủy viên Ban Thường vụ thành ủy, tỉnh ủy;
-
Giữ chức vụ thứ trưởng hoặc tương đương thứ trưởng trở lên tại các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và tương đương;
-
Hoặc các chức danh thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý.
Việc xét xử các vụ án này tại Tòa án nhân dân cấp tỉnh nhằm bảo đảm tính khách quan, hạn chế tác động từ các mối quan hệ địa phương và giữ vững uy tín của hoạt động tư pháp.
4. Vụ án mà người phạm tội là người có chức sắc trong tôn giáo
Thông tư liên tịch số 03 xác định người có chức sắc trong tôn giáo là người được phong phẩm hoặc suy cử giữ các vị trí như:
-
Hòa thượng, thượng tọa, ni trưởng, ni sư của Giáo hội Phật giáo Việt Nam;
-
Mục sư của các tổ chức Tin lành;
-
Phối sư trở lên của các Hội thánh Cao Đài;
-
Giảng sư trở lên của Tịnh độ Cư sỹ Phật hội Việt Nam;
-
Và các phẩm vị tương đương của các tổ chức tôn giáo khác.
Do tính chất ảnh hưởng sâu rộng của các chức danh này đối với cộng đồng tín đồ, việc xét xử các vụ án liên quan cần được tiến hành thận trọng tại Tòa án nhân dân cấp tỉnh để bảo đảm ổn định xã hội và tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo.
5. Vụ án mà người phạm tội là người có uy tín cao trong dân tộc thiểu số
Theo Thông tư liên tịch số 03, người có uy tín cao trong dân tộc thiểu số là người gắn bó mật thiết với đồng bào dân tộc thiểu số, có khả năng quy tụ, tập hợp, được đông đảo đồng bào tin tưởng, nghe và làm theo, bao gồm:
-
Cán bộ, công chức, viên chức, người thuộc lực lượng vũ trang có quá trình công tác lâu năm, có cống hiến cho vùng dân tộc thiểu số;
-
Già làng, trưởng thôn, trưởng bản, trưởng dòng họ;
-
Người thường được mời thực hiện các nghi lễ truyền thống;
-
Chức sắc, chức việc trong các tôn giáo ở vùng dân tộc thiểu số;
-
Nhân sỹ, trí thức, doanh nhân, nhà giáo, người hành nghề chữa bệnh giỏi hoặc người có điều kiện kinh tế thường xuyên giúp đỡ cộng đồng và được đồng bào tín nhiệm.
Đối với các vụ án có người phạm tội thuộc nhóm đối tượng này, việc xét xử tại Tòa án nhân dân cấp tỉnh nhằm hạn chế tối đa các tác động tiêu cực đến trật tự, an toàn xã hội và sự ổn định chính trị tại vùng dân tộc thiểu số.
V. Xác định thẩm quyền của Tòa án nhân dân khu vực theo lãnh thổ
1. Nguyên tắc xác định thẩm quyền theo nơi thực hiện tội phạm
Theo Điều 269 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Tòa án có thẩm quyền xét xử vụ án hình sự là Tòa án nơi tội phạm được thực hiện.
Đây là nguyên tắc cơ bản và được ưu tiên áp dụng khi xác định thẩm quyền xét xử theo lãnh thổ.
2. Áp dụng vào trường hợp cụ thể
Trong trường hợp hành vi phạm tội xảy ra tại Công ty Đại Phúc là nơi làm việc của nguyên đơn và địa điểm này thuộc địa bàn Tòa án nhân dân khu vực 4 thành phố Hà Nội, đồng thời vụ án không thuộc các trường hợp đặc biệt phải do Tòa án nhân dân cấp tỉnh xét xử, thì Tòa án nhân dân khu vực 4 Hà Nội là Tòa án có thẩm quyền xét xử sơ thẩm, mặc dù vụ án đã được Cơ quan điều tra cấp tỉnh tiến hành điều tra và ban hành Kết luận điều tra.
VI. Kết luận
Từ các phân tích trên có thể khẳng định rằng thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra cấp tỉnh không đồng nghĩa với thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân cấp tỉnh.
Việc xác định Tòa án có thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án hình sự phải căn cứ vào loại tội phạm, mức cao nhất của khung hình phạt, tính chất phức tạp của vụ án theo hướng dẫn liên ngành và nơi thực hiện hành vi phạm tội theo nguyên tắc lãnh thổ.
Trong bối cảnh mô hình Tòa án nhân dân khu vực chính thức được áp dụng từ ngày 01 tháng 7 năm 2025, việc hiểu đúng và áp dụng chính xác các quy định về thẩm quyền xét xử là yêu cầu bắt buộc đối với người tiến hành tố tụng, luật sư và người tham gia tố tụng.
Tham khảo BLTTHS 2025
Xem thêm bài viết: https://htllaw.com.vn/tai-san-thue-bi-ke-bien-the-chap-nam-2025