Hòa giải cấp cơ sở năm 2025 – Những tranh chấp bắt buộc phải tiến hành hòa giải

Hòa giải cấp cơ sở năm 2025 - Những tranh chấp bắt buộc phải tiến hành hòa giải
Table of Contents

Trong đời sống cộng đồng, các mâu thuẫn, tranh chấp nhỏ phát sinh thường xuyên: từ việc sử dụng lối đi, nguồn nước, đến bất đồng trong gia đình hay thừa kế. Để hạn chế khiếu kiện và giữ gìn tình đoàn kết, pháp luật Việt Nam quy định cơ chế hòa giải ở cơ sở – một hình thức giải quyết tranh chấp mang tính cộng đồng, nhân văn và tự nguyện.

Hòa giải ở cơ sở không chỉ giúp giải quyết nhanh, tiết kiệm chi phí và thời gian cho người dân mà còn góp phần ổn định trật tự, an ninh ở địa phương. Tuy nhiên, không phải vụ việc nào cũng có thể hoặc phải được hòa giải tại cấp cơ sở. Để xác định đúng phạm vi, cần căn cứ vào Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 và Nghị định số 15/2014/NĐ-CP hướng dẫn thi hành.

Căn cứ pháp lý điều chỉnh hoạt động hòa giải ở cơ sở

Hệ thống văn bản pháp luật hiện hành quy định về hòa giải ở cơ sở bao gồm:

  • Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 – văn bản pháp lý gốc quy định phạm vi, nguyên tắc, trình tự, quyền và nghĩa vụ của hòa giải viên;

  • Nghị định số 15/2014/NĐ-CP ngày 27/2/2014 của Chính phủ hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Hòa giải ở cơ sở;

  • Các văn bản liên quan như Bộ luật Dân sự 2015, Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, Luật Đất đai 2013, Bộ luật Lao động 2019 (sửa đổi 2024),…

Theo khoản 2 Điều 1 Luật Hòa giải ở cơ sở 2013, hoạt động hòa giải của Tòa án, trọng tài thương mại, hòa giải viên lao động hoặc Ủy ban nhân dân cấp xã không thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật này. Như vậy, hòa giải ở cơ sở được hiểu là hòa giải trong cộng đồng dân cư (thôn, tổ dân phố), do tổ hòa giải và hòa giải viên thực hiện.

Phạm vi và các vụ việc được hòa giải ở cấp cơ sở

Nguyên tắc chung

Căn cứ Điều 3 Luật Hòa giải ở cơ sở, việc hòa giải ở cấp cơ sở được thực hiện đối với các mâu thuẫn, tranh chấp, vi phạm pháp luật trong đời sống hằng ngày, trừ các trường hợp:

  • Mâu thuẫn hoặc tranh chấp xâm phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng;

  • Vi phạm pháp luật về hôn nhân, gia đình, giao dịch dân sự mà pháp luật tố tụng dân sự quy định không được hòa giải (ví dụ: yêu cầu hủy kết hôn trái pháp luật, tranh chấp quyền nuôi con có yếu tố bạo lực…);

  • Hành vi vi phạm pháp luật phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc xử phạt hành chính;

  • Những tranh chấp khác mà pháp luật cấm hòa giải ở cơ sở.

Những loại vụ việc cụ thể được hòa giải

Theo Điều 5 Nghị định 15/2014/NĐ-CP, các vụ việc được hòa giải ở cơ sở bao gồm:

(a) Mâu thuẫn trong sinh hoạt, lối sống cộng đồng

Đây là nhóm vụ việc phổ biến nhất, bao gồm mâu thuẫn về lối đi, điện nước sinh hoạt, vệ sinh chung, tiếng ồn, vật nuôi, hay bất đồng do khác biệt lối sống, phong tục. Việc hòa giải kịp thời giúp ổn định quan hệ láng giềng, tránh khiếu kiện nhỏ lẻ.

(b) Tranh chấp phát sinh từ quan hệ dân sự

Bao gồm các tranh chấp về quyền sở hữu tài sản, nghĩa vụ dân sự, hợp đồng vay mượn, mua bán, cho thuê, thừa kế, hoặc tranh chấp quyền sử dụng đất nhưng chưa đủ điều kiện khởi kiện ra Tòa. Hòa giải ở cơ sở thường là bước đầu tiên giúp các bên hiểu rõ quyền lợi, tránh phát sinh thủ tục pháp lý phức tạp.

(c) Tranh chấp hôn nhân và gia đình

Luật cho phép hòa giải các mâu thuẫn giữa vợ chồng, giữa cha mẹ – con, giữa ông bà – cháu, giữa anh chị em hoặc thành viên khác trong gia đình; các vấn đề về cấp dưỡng, nuôi con nuôi, xác định cha mẹ con, ly hôn (nếu các bên tự nguyện).
Tuy nhiên, ly hôn chỉ được hòa giải ở cơ sở khi tự nguyện, còn hòa giải bắt buộc trong ly hôn được thực hiện tại Tòa án, không thuộc phạm vi này.

(d) Vi phạm pháp luật chưa đến mức bị xử lý hình sự hoặc hành chính

Ví dụ: hành vi đánh nhau nhưng gây thương tích nhẹ, xâm phạm danh dự nhân phẩm ở mức chưa bị khởi tố; hoặc tranh chấp nhỏ có thể giải quyết bằng cam kết, bồi thường dân sự.

(e) Vi phạm pháp luật hình sự được phép hòa giải

Bao gồm các trường hợp:

  • Không bị khởi tố vụ án hoặc không bị xử lý hành chính;

  • Vụ án chỉ khởi tố theo yêu cầu người bị hại nhưng người bị hại không yêu cầu khởi tố;

  • Vụ án đã được đình chỉ điều tra hoặc đình chỉ vụ án.

(f) Vi phạm pháp luật hành chính có thể áp dụng biện pháp giáo dục

Khi cá nhân có hành vi vi phạm đủ điều kiện bị giáo dục tại xã, phường, thị trấn, tổ hòa giải có thể phối hợp tham gia hòa giải, giúp đối tượng nhận thức và sửa sai trước khi áp dụng biện pháp hành chính chính thức.

Nguyên tắc tự nguyện trong hòa giải

Theo Điều 16 Luật Hòa giải ở cơ sở, hòa giải chỉ được tiến hành khi:

  1. Một hoặc các bên tự nguyện yêu cầu;

  2. Hòa giải viên biết hoặc chứng kiến vụ việc;

  3. Theo phân công hoặc đề nghị của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan.

Điều này cho thấy không có bất kỳ vụ việc nào bắt buộc phải hòa giải ở cấp cơ sở, tất cả đều dựa trên sự tự nguyện của các bên.

Các vụ việc bắt buộc phải hòa giải nhưng không thuộc phạm vi cơ sở

Một số loại tranh chấp tuy phải qua thủ tục hòa giải bắt buộc, nhưng không thuộc phạm vi “hòa giải ở cơ sở” được quy định tại Luật Hòa giải ở cơ sở 2013. Cụ thể:

1. Tranh chấp về đất đai

Theo khoản 2 Điều 202 Luật Đất đai 2013 và Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP của TAND Tối cao, đối với tranh chấp ai là người có quyền sử dụng đất, nếu chưa hòa giải tại UBND cấp xã nơi có đất, thì chưa đủ điều kiện khởi kiện ra Tòa án.
=> Đây là hòa giải bắt buộc, nhưng do Ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện, không phải tổ hòa giải ở cơ sở.

2. Tranh chấp lao động

Theo Điều 188 và Điều 191 Bộ luật Lao động 2019 (sửa đổi 2024), các tranh chấp lao động cá nhân và tập thể về quyền phải được hòa giải bởi hòa giải viên lao động trước khi khởi kiện hoặc yêu cầu trọng tài.
=> Đây cũng là hòa giải bắt buộc theo quy trình chuyên ngành, không phải hòa giải cấp cơ sở.

3. Tranh chấp hôn nhân và gia đình tại Tòa án

Theo Điều 52 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, Nhà nước khuyến khích hòa giải ở cơ sở khi vợ chồng có yêu cầu ly hôn, nhưng đây không phải điều kiện bắt buộc.
Ngược lại, hòa giải tại Tòa án trước khi xét xử ly hôn là bắt buộc – đây là hòa giải tư pháp, không thuộc phạm vi cấp cơ sở.

Ý nghĩa thực tiễn của hòa giải ở cơ sở

Hòa giải ở cơ sở có vai trò đặc biệt quan trọng trong đời sống xã hội:

  • Giảm tải cho hệ thống Tòa án, tiết kiệm chi phí tố tụng;

  • Giữ gìn tình cảm, đoàn kết trong cộng đồng dân cư;

  • Giáo dục, phòng ngừa vi phạm pháp luật, nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật;

  • Tăng cường sự tham gia của người dân vào quản lý xã hội ở cơ sở.

Trên thực tế, nhiều vụ việc nhỏ nếu được hòa giải sớm sẽ tránh được mâu thuẫn leo thang, hạn chế phát sinh tội phạm hoặc khiếu kiện kéo dài.

Kết luận

Tóm lại, hòa giải ở cấp cơ sở là cơ chế tự nguyện, được pháp luật khuyến khích nhằm giải quyết các mâu thuẫn, tranh chấp dân sự, hôn nhân – gia đình và vi phạm pháp luật nhẹ.
Hiện nay, không có vụ việc nào bắt buộc phải hòa giải ở cơ sở. Các trường hợp bắt buộc hòa giải (như tranh chấp đất đai, lao động) đều thuộc phạm vi hòa giải chuyên ngành hoặc hành chính, không nằm trong phạm vi của Luật Hòa giải ở cơ sở.

Dịch vụ pháp lý hỗ trợ từ Công ty Luật HTL

Nếu bạn đang gặp phải tình huống tranh chấp, chưa rõ quyền lợi được bồi thường hoặc cần soạn đơn khiếu nại, khiếu kiện, hãy liên hệ Công ty Luật HTL để được hỗ trợ:

  • Tư vấn xác định điều kiện được bồi thường khi chưa có sổ đỏ;
  • Đại diện làm việc với Hội đồng bồi thường, UBND địa phương;
  • Soạn thảo đơn kiến nghị, đơn khiếu nại hành chính, đơn khởi kiện nếu cần thiết;
  • Tư vấn phương án nhận bồi thường, hỗ trợ, tái định cư có lợi nhất.

Bài viết có sự tham khảo từ văn bản Luật Đất đai năm 2024 trên website Thư viện pháp luật

Tham khảo thêm: https://htllaw.com.vn/tai-san-rieng-trong-thoi-ky-hon-nhan-2025

Back to Top
Gọi ngay
Tổng đài tư vấn pháp luật miễn phí: 1900 5074