Bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo có được coi là tình tiết giảm nhẹ? Giải thích điều kiện pháp lý, quy định trong Bộ luật Hình sự 2025, và những tình tiết giảm nhẹ phổ biến mà Tòa án thường xem xét.
1. Bị hại xin giảm nhẹ hình phạt là gì?
Trong vụ án hình sự, bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của bị hại có thể làm đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, thể hiện mong muốn Tòa án xem xét khoan hồng khi lượng hình. Điều này thường xảy ra khi bị cáo đã:
-
Bồi thường đầy đủ thiệt hại cho bị hại;
-
Mâu thuẫn giữa các bên đã được hòa giải;
-
Bị hại không yêu cầu việc giải quyết trách nhiệm dân sự;
-
Bị cáo thể hiện rõ thái độ ăn năn, hối cải.
Câu hỏi đặt ra là: Liệu đơn xin giảm nhẹ của bị hại có được coi là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự hay không?
2. Căn cứ pháp lý về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự sau BLHS 2025
Hiện nay, căn cứ pháp lý để xác định tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là Điều 51 của Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung bởi các luật mới nhất, trong đó có Luật số 86/2025/QH15 (thuộc BLHS sửa đổi bổ sung năm 2025).
2.1. Khoản 1 Điều 51 BLHS
Khoản 1 liệt kê các tình tiết giảm nhẹ điển hình như:
-
Người phạm tội ngăn chặn hoặc làm giảm bớt tác hại của tội phạm;
-
Tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả;
-
Phạm tội trong trường hợp do phòng vệ chính đáng vượt quá mức cần thiết;
-
Phạm tội trong hoàn cảnh bị kích động mạnh;
-
Lần đầu phạm tội, trong trường hợp ít nghiêm trọng;
-
Người phạm tội là phụ nữ có thai, người già, người khuyết tật nặng…;
-
Các tình tiết khác liên quan đến hoàn cảnh, nhận thức, vai trò … theo Điều 51.
Những tình tiết này đều là các căn cứ pháp lý được quy định rõ trong BLHS để Tòa án áp dụng khi quyết định hình phạt.
3. Bị hại xin giảm nhẹ hình phạt: Có phải là tình tiết giảm nhẹ?
3.1. BLHS không liệt kê trực tiếp
BLHS hiện hành không trực tiếp liệt kê việc “bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo” trong danh mục các tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1 Điều 51. Tuy nhiên, pháp luật vẫn mở ra cơ chế để Tòa án xem xét các tình tiết khác có thể coi là giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51.
3.2. Tòa án có thể coi là tình tiết giảm nhẹ
Căn cứ khoản 2 Điều 51 BLHS:
“Khi quyết định hình phạt, Tòa án có thể coi các tình tiết khác là tình tiết giảm nhẹ, nhưng phải ghi rõ lý do giảm nhẹ trong bản án.”
Đơn xin giảm nhẹ của bị hại thuộc nhóm tình tiết khác mà Tòa án có quyền xem xét, nếu được đánh giá là phù hợp với chính sách nhân đạo, khắc phục hậu quả và không mâu thuẫn với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội.
Nói cách khác: Có thể coi việc bị hại xin giảm nhẹ là tình tiết giảm nhẹ, nhưng không phải bắt buộc Tòa án phải xem xét hoặc chấp nhận.
4. Những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự khác mà Tòa án thường xem xét
Để xác định việc xin giảm nhẹ của bị hại có đáng kể hay không, cần đặt nó trong bối cảnh tổng thể các tình tiết mà Tòa án thường cân nhắc. Các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 1 Điều 51 BLHS và được hướng dẫn cụ thể bởi Nghị quyết 04/2025/NQ-HĐTP gồm nhiều trường hợp, ví dụ:
4.1. Hành vi giảm hoặc ngăn chặn tác hại
Nếu người phạm tội có hành vi nhằm giảm thiệt hại sau khi tội phạm đã xảy ra (ví dụ đưa nạn nhân đi cấp cứu kịp thời), thì đó là tình tiết giảm nhẹ.
4.2. Tự nguyện bồi thường và khắc phục hậu quả
Người phạm tội tự mình hoặc thông qua người khác khắc phục hậu quả, sửa chữa tài sản, bồi thường cho bị hại cũng là tình tiết giảm nhẹ.
4.3. Phạm tội do tình huống đặc biệt
Ví dụ:
-
Phạm tội do bị kích động mạnh của người bị hại;
-
Phạm tội trong hoàn cảnh nhân đạo hoặc vì lý do chính đáng.
4.4. Nhân thân và hoàn cảnh của người phạm tội
Những tình tiết sau đây được BLHS và Nghị quyết hướng dẫn coi là giảm nhẹ:
-
Người phạm tội lần đầu và ở trường hợp ít nghiêm trọng;
-
Phụ nữ mang thai, người cao tuổi, người khuyết tật nặng;
-
Người phạm tội do hoàn cảnh xã hội khó khăn không do mình tự gây ra. Vĩnh Kiếm Sát
4.5. Các tình tiết khác theo hướng dẫn của TAND Tối cao
Nghị quyết 04/2025/NQ-HĐTP còn hướng dẫn 09 tình tiết khác có thể coi là giảm nhẹ (ví dụ: tự nguyện trình diện, nộp lại tiền thu lợi bất chính một phần, phạm tội vì phục vụ công tác đột xuất, có hoàn cảnh gia đình đặc biệt khó khăn …).
Điểm chung: Tòa án xem xét tổng thể những tình tiết này khi quyết định mức hình phạt, trong đó việc bị hại xin giảm nhẹ có thể tăng trọng cho tình tiết giảm nhẹ nói chung.
5. Khi nào xin giảm nhẹ của bị hại phát huy hiệu quả?
Đơn xin giảm nhẹ của bị hại thường được Tòa án đánh giá cao hơn nếu:
-
Bị cáo đã bồi thường đầy đủ thiệt hại và hậu quả được khắc phục;
-
Bị hại không yêu cầu giải quyết trách nhiệm dân sự;
-
Đơn xin giảm nhẹ được lập tự nguyện và thể hiện rõ thiện chí;
-
Bị cáo có thêm các tình tiết khác thuộc nhóm giảm nhẹ như thành khẩn khai báo, phạm tội lần đầu…
Trong trường hợp này, Tòa án có thể ghi nhận và cân nhắc áp dụng mức hình phạt nhẹ hơn so với thông thường.
6. Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thường được áp dụng song song
Trong thực tiễn, đơn xin giảm nhẹ của bị hại hiếm khi đứng một mình, mà thường được đặt trong tổng thể các tình tiết giảm nhẹ khác theo Điều 51 BLHS.
6.1. Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải
Đây là tình tiết giảm nhẹ được áp dụng phổ biến nhất. Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, hợp tác với cơ quan tiến hành tố tụng sẽ được đánh giá là có khả năng cải tạo tốt.
6.2. Tự nguyện khắc phục hậu quả, sửa chữa thiệt hại
Ngoài việc bồi thường bằng tiền, các hành vi như:
-
Chủ động xin lỗi;
-
Tích cực hỗ trợ khắc phục thiệt hại;
-
Giảm thiểu hậu quả phát sinh;
đều được coi là biểu hiện tích cực, thường được Tòa án ghi nhận.
6.3. Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng
Người phạm tội:
-
Không có tiền án, tiền sự;
-
Hành vi mang tính bộc phát, nhất thời;
→ Thường được đánh giá là không cần thiết phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc.
6.4. Người bị hại cũng có một phần lỗi
Trong nhiều vụ án, đặc biệt là xô xát, tai nạn giao thông, hành vi của bị hại có thể góp phần dẫn đến hậu quả. Đây là yếu tố quan trọng khi Tòa án cân nhắc mức hình phạt.
6.5. Hoàn cảnh nhân thân và gia đình của bị cáo
Các yếu tố thường được xem xét gồm:
-
Là lao động chính trong gia đình;
-
Nuôi con nhỏ, người già, người bệnh;
-
Có nhân thân tốt, chấp hành tốt pháp luật trước khi phạm tội.
Những yếu tố này không làm mất tính nguy hiểm của hành vi nhưng có giá trị nhân đạo khi lượng hình.
7. Đơn xin giảm nhẹ của bị hại có làm đình chỉ vụ án không?
Một hiểu nhầm phổ biến là: bị hại xin giảm nhẹ thì vụ án sẽ bị đình chỉ.
Trên thực tế:
-
Đơn xin giảm nhẹ không làm chấm dứt vụ án hình sự;
-
Vụ án chỉ có thể đình chỉ nếu thuộc tội danh khởi tố theo yêu cầu của bị hại và bị hại rút yêu cầu theo đúng trình tự luật định.
Trong các vụ án còn lại, đơn xin giảm nhẹ chỉ ảnh hưởng đến giai đoạn quyết định hình phạt.
Kết luận
Có thể coi đơn xin giảm nhẹ hình phạt của bị hại là một tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo khoản 2 Điều 51 BLHS 2025. Tuy nhiên, việc Tòa án chấp nhận hay không đều tùy thuộc vào đánh giá tổng thể các tình tiết của vụ án và chính sách xử lý đối với từng loại tội phạm. Đơn xin giảm nhẹ càng thuyết phục khi đi kèm với việc bồi thường đầy đủ, hòa giải thành, nhân thân tốt và các tình tiết giảm nhẹ khác.
Bài viết có sự tham khảo từ văn bản BLHS 2015 trên website Thư viện pháp luật
Tham khảo thêm: https://htllaw.com.vn/tai-san-rieng-trong-thoi-ky-hon-nhan-2025