Người từ đủ 18 tuổi có được hiến tinh trùng không? Người nhận tinh trùng sau khi thụ thai còn dư tinh trùng thì xử lý ra sao?

hiến tinh trùng
Table of Contents

Người từ đủ 18 tuổi có được hiến tinh trùng không? Người nhận tinh trùng sau khi thụ thai còn dư tinh trùng thì xử lý ra sao?

hiến tinh trùng

Người từ đủ 18 tuổi có đủ điều kiện để hiến tinh trùng không?

Căn cứ theo quy định tại Điều 4 Nghị định 207/2025/NĐ-CP quy định cụ thể về điều kiện của người hiến tinh trùng như sau:

Quy định về việc hiến tinh trùng, hiến noãn, hiến phôi

1. Đối tượng hiến tinh trùng, hiến noãn, hiến phôi:

a) Người được quy định tại khoản 1 Điều 6 Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác;

b) Cặp vợ chồng sau khi thực hiện kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm hoặc mang thai hộ vì mục đích nhân đạo còn dư tinh trùng, noãn, phôi và không có nhu cầu sử dụng số lượng tinh trùng, noãn, phôi này;

c) Phụ nữ độc thân sau khi thực hiện kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm còn dư noãn và không có nhu cầu sử dụng số lượng noãn này.

2. Người hiến tinh trùng, hiến noãn, hiến phôi phải không bị bệnh di truyền ảnh hưởng đến thế hệ sau; không bị mắc bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình; không bị nhiễm HIV.

3. Việc xử lý tinh trùng, noãn, phôi hiến còn dư sau khi sinh con áp dụng theo quy định tại khoản 2 Điều 7 của Nghị định này.

Dẫn chiếu đến quy định tại khoản 1 Điều 6 Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác 2006 có quy định:

Quyền hiến, nhận tinh trùng, noãn, phôi trong thụ tinh nhân tạo

1. Nam từ đủ hai mươi tuổi trở lên, nữ từ đủ mười tám tuổi trở lên, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ có quyền hiến, nhận tinh trùng, noãn, phôi trong thụ tinh nhân tạo theo quy định của pháp luật.

Theo đó, người tử đủ 18 tuổi đến dưới 20 tuổi thì không đủ điều kiện để được phép hiến tinh trùng theo quy định pháp luật. Người từ đủ 20 tuổi trở lên cần đáp ứng các điều kiện cụ thể như:

– Nam từ đủ hai mươi tuổi trở lên, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ có quyền hiến, nhận tinh trùng, noãn, phôi trong thụ tinh nhân tạo theo quy định của pháp luật.

– Không bị bệnh di truyền ảnh hưởng đến thế hệ sau;

– Không bị mắc bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình;

– Không bị nhiễm HIV.

Số tinh trùng còn dư của người hiến tinh trùng sau khi thực hiện thụ thai thành công sẽ được xử lý ra sao?

Căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 7 Nghị định 207/2025/NĐ-CP quy định cụ thể về điều kiện của người hiến tinh trùng như sau:

Quy định về việc xử lý tinh trùng, noãn, phôi dư

2. Trường hợp cặp vợ chồng hoặc phụ nữ độc thân đã sinh con bằng tinh trùng, noãn, phôi hiến và còn dư tinh trùng, noãn, phôi thì việc xử lý tinh trùng, noãn, phôi còn dư thực hiện theo nguyện vọng của cặp vợ chồng hoặc người phụ nữ độc thân đó, cụ thể như sau:

a) Đề nghị gửi theo quy định tại Điều 9 của Nghị định này và chỉ được sử dụng để tiếp tục sinh con cho chính cặp vợ chồng hoặc người phụ nữ độc thân đó;

b) Hiến cho cơ sở được thực hiện việc lưu giữ để sử dụng vào mục đích nghiên cứu khoa học; việc hiến phải được thể hiện bằng văn bản với sự đồng ý của cả hai vợ chồng hoặc người phụ nữ độc thân;

c) Đề nghị hủy.

Theo đó, trường hợp sau khi thụ thai thành công mà người nhận tinh trùng hiến còn dư tinh trùng thì có thể xử lý theo các cách sau:

– Đề nghị gửi tại cơ sở lưu trữ tinh trùng, noãn, phôi và chỉ được dùng tinh trùng đó cho lần thụ thai tiếp theo của người đó.

– Hiến cho cơ sở lưu giữ nhằm để cơ sở này sử dụng vào mục đích nghiêm cứu khoa học và phải lập bằng văn bản với sự đồng ý của người hiến.

– Đề nghị tiêu hủy số tinh trùng còn dư thừa.

Tinh trùng của người gửi tinh trùng sau khi người này qua đời được xử lý ra sao theo quy định?

Căn cứ theo quy định tại Khoản 2 Điều 9 Nghị định 207/2025/NĐ-CP quy định cụ thể về xử lý tinh trùng sau khi người hiến tinh trùng chết như sau:

– Nếu người gửi tinh trùng chết thì cơ sở lưu giữ phải hủy số tinh trùng đang lưu giữ của người đó, trừ các trường hợp: người vợ có nguyện vọng được sinh con bằng tinh trùng của người chồng đã chết; hoặc trước khi chết người gửi có văn bản thể hiện nguyện vọng hiến tinh trùng cho cơ sở lưu giữ theo quy định tại Nghị định này;

– Nếu người gửi noãn chết thì cơ sở lưu giữ phải hủy số noãn đang lưu giữ của người đó, trừ trường hợp trước khi chết người gửi có văn bản thể hiện nguyện vọng hiến noãn cho cơ sở lưu giữ theo quy định tại Nghị định này;

– Nếu người chồng trong cặp vợ chồng gửi phôi chết thì phải hủy phôi của cặp vợ chồng đó, trừ các trường hợp: người vợ có nguyện vọng được sinh con bằng phôi của hai vợ chồng; hoặc người vợ có văn bản hiến phôi cho cơ sở lưu giữ để nghiên cứu khoa học hoặc thực hiện kỹ thuật hỗ trợ sinh sản cho một phụ nữ độc thân hoặc một cặp vợ chồng khác;

– Nếu người vợ trong cặp vợ chồng hoặc cả hai vợ chồng gửi phôi chết thì phải hủy phôi của cặp vợ chồng đó, trừ trường hợp có văn bản của cả hai vợ chồng thể hiện nguyện vọng hiến phôi cho cơ sở lưu giữ để nghiên cứu khoa học hoặc thực hiện kỹ thuật hỗ trợ sinh sản cho một phụ nữ độc thân hoặc một cặp vợ chồng khác;

– Nếu người phụ nữ độc thân gửi phôi chết thì phải hủy phôi của người đó, trừ trường hợp trước khi chết người đó có văn bản thể hiện nguyện vọng hiến phôi cho cơ sở lưu giữ để nghiên cứu khoa học.

ham khảo: https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Quyen-dan-su/Luat-Hon-nhan-va-gia-dinh-2014-238640.aspx?

Tham khảo dịch vụ của chúng tôi: https://htllaw.com.vn/

Back to Top
Gọi ngay
Tổng đài tư vấn pháp luật miễn phí: 1900 5074