Dùng hợp đồng khoán việc để né đóng bảo hiểm xã hội có bị phạt không?

Hợp đồng khoán việc có phải hợp đồng lao động không?
Hợp đồng khoán việc (hay còn gọi là hợp đồng thuê khoán) là thỏa thuận giữa hai bên, trong đó bên nhận khoán có trách nhiệm hoàn thành một công việc theo yêu cầu và sau đó bàn giao kết quả cho bên giao khoán. Khi nhận bàn giao sản phẩm công việc, bên giao khoán phải thanh toán khoản tiền công đã thống nhất từ trước.
Trong khi, Bộ luật Lao động 2019 không quy định cụ thể về loại hợp đồng khoán việc, chỉ có quy định rõ về hợp đồng lao động là sự thỏa thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động về việc làm có trả công, tiền lương, điều kiện lao động, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ lao động (khoản 1 Điều 13 Bộ luật Lao động 2019).
Do đó, hợp đồng khoán việc không được xem là hợp đồng lao động. Vì:
Hợp đồng lao động là sự thỏa thuận theo đó người lao động làm việc dưới sự quản lý, điều hành của người sử dụng lao động, dùng sức lao động để tạo ra sản phẩm và được trả lương. Mọi điều kiện làm việc (công cụ, vật tư…) do người sử dụng lao động cung cấp.
– Hợp đồng thuê khoán là hợp đồng dân sự. Người nhận khoán được giao một công việc và phải hoàn thành sản phẩm cuối cùng. Họ thường tự chuẩn bị công cụ, vật tư (tùy loại khoán), làm việc độc lập và không chịu sự quản lý như quan hệ lao động.
Dùng hợp đồng khoán việc để né đóng bảo hiểm xã hội có bị phạt không?
Căn cứ theo khoản 7 Điều 39 Nghị định 12/2022/NĐ-CP quy định:
Vi phạm quy định về đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp
…
7. Phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 75.000.000 đồng đối với người sử dụng lao động có một trong các hành vi sau đây:
a) Trốn đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự;
b) Sửa chữa, làm sai lệch văn bản, tài liệu trong hồ sơ đề xuất được áp dụng mức đóng thấp hơn mức đóng bình thường vào Quỹ Bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự.
…
10. Biện pháp khắc phục hậu quả
a) Buộc người sử dụng lao động đóng đủ số tiền bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp phải đóng cho cơ quan bảo hiểm xã hội đối với hành vi vi phạm quy định tại khoản 5, 6, 7 Điều này;
b) Buộc người sử dụng lao động nộp khoản tiền lãi bằng 02 lần mức lãi suất đầu tư quỹ bảo hiểm xã hội bình quân của năm trước liền kề tính trên số tiền, thời gian chậm đóng, không đóng, trốn đóng, chiếm dụng tiền đóng; nếu không thực hiện thì theo yêu cầu của người có thẩm quyền, ngân hàng, tổ chức tín dụng khác, kho bạc nhà nước có trách nhiệm trích từ tài khoản tiền gửi của người sử dụng lao động để nộp số tiền chưa đóng, chậm đóng và khoản tiền lãi của số tiền này tính theo lãi suất tiền gửi không kỳ hạn cao nhất của các ngân hàng thương mại nhà nước công bố tại thời điểm xử phạt vào tài khoản của cơ quan bảo hiểm xã hội đối với những hành vi vi phạm quy định tại các khoản 5, 6, 7 Điều này từ 30 ngày trở lên.
Theo đó, nếu người sử dụng lao động có hành vi dùng hợp đồng khoán việc để né đóng bảo hiểm xã hội sẽ được tính là có hành vi trốn đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc. Bởi vì bản chất của hợp đồng khoán việc là sự thỏa thuận của hai bên, theo đó bên nhận khoán có nghĩa vụ hoàn thành một công việc nhất định theo yêu cầu của bên giao khoán và sau khi đã hoàn thành phải bàn giao cho bên giao khoán kết quả của công việc đó. Do đó, hợp đồng khoán việc sẽ không được tính là hợp đồng lao động và sẽ không thuộc đối tượng phải đóng bảo hiểm xã hội.
Như vậy, trường hợp người sử dụng lao động dùng hợp đồng khoán việc để né đóng bảo hiểm xã hội sẽ bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 75.000.000 đồng bởi vì người sử dụng lao động có hành vi trốn đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc.
Đồng thời, buộc người sử dụng lao động đóng đủ số tiền bảo hiểm xã hội bắt buộc phải đóng cho cơ quan bảo hiểm xã hội và nộp khoản tiền lãi bằng 02 lần mức lãi suất đầu tư quỹ bảo hiểm xã hội bình quân của năm trước liền kề tính trên số tiền, thời gian chậm đóng, không đóng, trốn đóng, chiếm dụng tiền đóng.
Nếu không thực hiện thì theo yêu cầu của người có thẩm quyền, ngân hàng, tổ chức tín dụng khác, kho bạc nhà nước có trách nhiệm trích từ tài khoản tiền gửi của người sử dụng lao động để nộp số tiền chưa đóng, chậm đóng và khoản tiền lãi của số tiền này tính theo lãi suất tiền gửi không kỳ hạn cao nhất của các ngân hàng thương mại nhà nước công bố tại thời điểm xử phạt vào tài khoản của cơ quan bảo hiểm xã hội đối với hành vi dùng hợp đồng khoán việc để né đóng bảo hiểm xã hội từ 30 ngày trở lên.
Lưu ý: Căn cứ theo khoản 1 Điều 6 Nghị định 12/2022/NĐ-CP thì mức phạt tiền đối với tổ chức bằng 02 lần mức phạt tiền đối với cá nhân.
Thời điểm giao kết hợp đồng khoán việc là khi nào?
Căn cứ theo Điều 400 Bộ luật Dân sự 2015 quy định như sau:
Thời điểm giao kết hợp đồng
1. Hợp đồng được giao kết vào thời điểm bên đề nghị nhận được chấp nhận giao kết.
2. Trường hợp các bên có thỏa thuận im lặng là sự trả lời chấp nhận giao kết hợp đồng trong một thời hạn thì thời điểm giao kết hợp đồng là thời điểm cuối cùng của thời hạn đó.
3. Thời điểm giao kết hợp đồng bằng lời nói là thời điểm các bên đã thỏa thuận về nội dung của hợp đồng.
4. Thời điểm giao kết hợp đồng bằng văn bản là thời điểm bên sau cùng ký vào văn bản hay bằng hình thức chấp nhận khác được thể hiện trên văn bản.
Trường hợp hợp đồng giao kết bằng lời nói và sau đó được xác lập bằng văn bản thì thời điểm giao kết hợp đồng được xác định theo khoản 3 Điều này.
Dựa theo quy định thì thời điểm giao kết hợp đồng khoán việc là khi:
– Hợp đồng khoán việc được giao kết vào thời điểm bên đề nghị nhận được chấp nhận giao kết.
– Trường hợp các bên có thỏa thuận im lặng là sự trả lời chấp nhận giao kết hợp đồng khoán việc trong một thời hạn thì thời điểm giao kết hợp đồng khoán việc là thời điểm cuối cùng của thời hạn đó.
– Thời điểm giao kết hợp đồng khoán việc bằng lời nói là thời điểm các bên đã thỏa thuận về nội dung của hợp đồng khoán việc.
– Thời điểm giao kết hợp đồng khoán việc bằng văn bản là thời điểm bên sau cùng ký vào văn bản hay bằng hình thức chấp nhận khác được thể hiện trên văn bản.
– Trường hợp hợp đồng khoán việc giao kết bằng lời nói và sau đó được xác lập bằng văn bản thì thời điểm giao kết hợp đồng được xác định theo khoản 3 Điều 400 Bộ luật Dân sự 2015.
Tham khảo thêm bài viết của chúng tôi: https://htllaw.com.vn/