Trong lĩnh vực nông – lâm nghiệp nói chung và ngành gỗ nói riêng, việc xác định đúng mức thuế suất Thuế Giá trị gia tăng (GTGT) luôn là một bài toán phức tạp đối với nhiều kế toán và chủ doanh nghiệp. Ranh giới giữa sản phẩm “chưa chế biến”, “sơ chế thông thường” và “đã qua chế biến” quyết định trực tiếp đến việc sản phẩm đó thuộc đối tượng không chịu thuế, không phải kê khai nộp thuế hay phải chịu thuế suất 10%.
Đặc biệt, theo Luật Thuế giá trị gia tăng 2024 (được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 149/2025/QH15) và các văn bản hướng dẫn thi hành mới nhất như Nghị định 181/2025/NĐ-CP (sửa đổi bởi Nghị định 359/2025/NĐ-CP), mặt hàng “gỗ” có những quy định loại trừ rất đặc thù so với các loại nông, lâm sản khác.
Bài viết dưới đây sẽ phân tích chuyên sâu các nhóm chính sách thuế GTGT áp dụng riêng cho sản phẩm gỗ để doanh nghiệp nắm rõ và áp dụng chính xác.
Trường hợp sản phẩm gỗ KHÔNG CHỊU THUẾ GTGT
Theo nguyên tắc chung của pháp luật về thuế giá trị gia tăng, Nhà nước luôn có chính sách ưu đãi nhằm khuyến khích khâu nuôi trồng và sản xuất nông, lâm, thủy sản gốc.
Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 5 Luật Thuế giá trị gia tăng 2024 và khoản 1 Điều 4 Nghị định 181/2025/NĐ-CP, sản phẩm rừng trồng (bao gồm cả gỗ) sẽ thuộc đối tượng không chịu thuế giá trị gia tăng nếu đáp ứng đồng thời 02 điều kiện sau:
- Về bản chất sản phẩm: Là sản phẩm chưa chế biến thành các sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường.
- Về chủ thể giao dịch: Phải do chính tổ chức, cá nhân tự trồng, tự khai thác bán ra hoặc ở khâu nhập khẩu.
Thế nào là gỗ “chỉ qua sơ chế thông thường”? Pháp luật quy định, các sản phẩm chỉ qua sơ chế thông thường là các sản phẩm mới được làm sạch, phơi, sấy khô, bóc vỏ, cắt, chẻ hoặc các hình thức bảo quản thông thường khác (như ngâm hóa chất để chống mối mọt, thối rữa). Trong trường hợp ranh giới kỹ thuật không rõ ràng, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn sẽ là cơ quan có thẩm quyền căn cứ vào quy trình sản xuất do người nộp thuế cung cấp để xác định xem sản phẩm gỗ đó đã bị coi là “chế biến thành sản phẩm khác” hay chưa.
Ví dụ: Một hộ gia đình hoặc doanh nghiệp lâm nghiệp tự trồng rừng keo. Khi đến kỳ thu hoạch, họ chặt hạ cây, bóc vỏ, cắt thành từng khúc gỗ tròn (gỗ nguyên liệu) rồi bán cho các nhà máy. Khâu bán ra này thuộc đối tượng không chịu thuế GTGT.
Trường hợp KHÔNG PHẢI KÊ KHAI, TÍNH NỘP THUẾ GTGT
Để tránh việc đánh thuế trùng lắp và hỗ trợ dòng tiền cho các doanh nghiệp trung gian thương mại, pháp luật có quy định về trường hợp không phải kê khai, tính nộp thuế.
Căn cứ theo khoản 1 Điều 5 Luật Thuế GTGT 2024 và khoản 1b Điều 4 Nghị định 181/2025/NĐ-CP, quy định này được áp dụng như sau:
- Doanh nghiệp, hợp tác xã nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ.
- Mua sản phẩm rừng trồng (gỗ thô, gỗ sơ chế thông thường) từ khâu tự sản xuất hoặc khâu nhập khẩu.
- Sau đó, bán lại cho một Doanh nghiệp, hợp tác xã khác (mô hình B2B) ở khâu kinh doanh thương mại.
Trong trường hợp này, bên bán (Doanh nghiệp thương mại) sẽ không phải kê khai, tính nộp thuế GTGT đầu ra, nhưng vẫn được khấu trừ toàn bộ thuế GTGT đầu vào phục vụ cho hoạt động kinh doanh đó. Lưu ý: Quy định này chỉ áp dụng khi người mua là doanh nghiệp/hợp tác xã nộp thuế theo phương pháp khấu trừ. Nếu người mua là cá nhân, hộ kinh doanh, chính sách thuế sẽ hoàn toàn thay đổi.
Gỗ bị LOẠI TRỪ khỏi mức thuế suất ưu đãi 5%
Nhiều kế toán viên thường mắc sai lầm nghiêm trọng khi đánh đồng “gỗ” với các loại nông, lâm, thủy sản thông thường khác.
Thông thường, theo quy định tại điểm b khoản 1b Điều 4 Nghị định 181/2025/NĐ-CP, nếu doanh nghiệp nộp thuế theo phương pháp khấu trừ bán nông lâm thủy sản (chưa chế biến/sơ chế) cho hộ kinh doanh, cá nhân thì sẽ áp dụng mức thuế suất 5%.
TUY NHIÊN, Luật Thuế giá trị gia tăng 2024 và Nghị định 181/2025/NĐ-CP đã loại trừ mặt hàng “Gỗ” và “Măng” ra khỏi nhóm được hưởng thuế suất 5%. Cụ thể, tại điểm d khoản 2 Điều 9 của Luật Thuế GTGT 2024 quy định mức thuế 5% áp dụng cho: “Sản phẩm cây trồng, rừng trồng (trừ gỗ, măng), chăn nuôi, thuỷ sản nuôi trồng, đánh bắt chưa chế biến thành các sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường…”.
Hệ quả pháp lý của việc loại trừ này là gì? Vì “Gỗ” không nằm trong nhóm đối tượng chịu thuế 5%, nên ở khâu kinh doanh thương mại, nếu doanh nghiệp (nộp thuế khấu trừ) bán gỗ thô, gỗ sơ chế cho hộ kinh doanh, cá nhân tiêu dùng, doanh nghiệp sẽ phải áp dụng mức thuế suất 10% thay vì 5% như các loại nông sản khác.
Lưu ý thêm đối với phương pháp trực tiếp: Nếu Hộ gia đình, cá nhân sản xuất kinh doanh hoặc Doanh nghiệp nộp thuế GTGT theo phương pháp tính trực tiếp trên doanh thu bán gỗ sơ chế ở khâu thương mại thì phải nộp thuế GTGT theo tỷ lệ 1% trên doanh thu.
Trường hợp áp dụng mức thuế suất GTGT 10% (Chế biến sâu)
Mức thuế suất 10% là mức thuế suất phổ thông, được áp dụng đối với hàng hóa, dịch vụ không được quy định tại các nhóm không chịu thuế, không kê khai nộp thuế hoặc nhóm thuế suất 5%.
Đối với ngành gỗ, mức thuế suất 10% sẽ được áp dụng trong các trường hợp chủ yếu sau:
- Gỗ đã qua chế biến: Bất kỳ sản phẩm gỗ nào đã vượt qua ranh giới “sơ chế thông thường” (làm sạch, phơi, sấy, bóc vỏ, cắt) để trở thành thành phẩm, bán thành phẩm (ví dụ: ván ép, gỗ MDF, đồ nội thất, giường, tủ, bàn ghế, cửa gỗ…) đều phải chịu thuế suất 10% ở mọi khâu kinh doanh.
- Kinh doanh thương mại gỗ thô bán cho người tiêu dùng: Như đã phân tích ở Phần 3, do gỗ bị loại trừ khỏi nhóm 5%, nên doanh nghiệp bán gỗ thô/sơ chế cho cá nhân, hộ gia đình sẽ phải xuất hóa đơn GTGT với thuế suất 10%.
- Tình huống thực tế: Cắt gỗ theo kích thước yêu cầu chịu thuế bao nhiêu?
Để hiểu rõ hơn về việc áp dụng pháp luật, chúng ta cùng xem xét một trường hợp thực tiễn đã được gửi đến Cổng Thông tin điện tử Chính phủ:
Tình huống: Công ty kinh doanh thương mại mua gỗ thô (gỗ cây, có nguồn gốc hợp pháp) từ các chủ rừng. Sau đó, công ty tiến hành xử lý cắt, tạo thành các sản phẩm có kích thước cụ thể theo đúng yêu cầu, bản vẽ của khách hàng. Vậy sản phẩm này chịu thuế suất 10% hay được xem là sơ chế thông thường không chịu thuế?
Phân tích pháp lý dựa trên Luật Thuế giá trị gia tăng 2024:
- Xét về bản chất hoạt động: Mặc dù “cắt” được liệt kê là một trong những hình thức sơ chế thông thường tại khoản 1 Điều 4 Nghị định 181/2025/NĐ-CP. Tuy nhiên, việc công ty sử dụng máy móc để cắt, xẻ, định hình gỗ thô thành các quy cách, kích thước chuyên biệt phục vụ cho mục đích sản xuất cụ thể của khách hàng (theo bản vẽ/yêu cầu) thường được cơ quan thuế xác định là khâu chế biến/gia công tạo ra sản phẩm gỗ bán thành phẩm, chứ không còn là sơ chế bảo quản thông thường.
- Xét về khâu lưu thông: Giả sử hành vi cắt gỗ của công ty chỉ là “cắt ngắn” thuần túy để dễ vận chuyển (vẫn được coi là sơ chế thông thường). Tuy nhiên, vì công ty đi mua từ chủ rừng để bán lại (đây là khâu kinh doanh thương mại), nếu bán cho doanh nghiệp khác thì không phải kê khai nộp thuế (khoản 1b Điều 4 Nghị định 181); nhưng nếu bán cho cá nhân, hộ kinh doanh thì do gỗ bị loại trừ khỏi nhóm thuế suất 5% (điểm d khoản 2 Điều 9 Luật Thuế giá trị gia tăng), nên công ty bắt buộc phải áp dụng thuế suất 10%.
- Do đó, đối với sản phẩm gỗ đã qua xử lý cắt theo quy cách yêu cầu của khách hàng thương mại, Bộ Tài chính hướng dẫn áp dụng quy định về hàng hóa thông thường, tức là chịu mức thuế suất 10% theo khoản 3 Điều 9 Luật Thuế giá trị gia tăng 2024.
Bên cạnh đó, Bộ Tài chính cũng đã ban hành Công văn số 4582/BTC-CST (ngày 13/4/2026) gửi Cục Thuế các tỉnh, thành phố hướng dẫn rất chi tiết về chính sách thuế giá trị gia tăng chuyên biệt đối với mặt hàng gỗ sơ chế thông thường để thống nhất áp dụng trên toàn quốc.
Kết luận
Việc xác định đúng mức thuế giá trị gia tăng cho sản phẩm gỗ đòi hỏi người làm công tác kế toán, tài chính phải nắm rất vững đường đi của sản phẩm: Từ Nguồn gốc (Tự trồng hay đi mua thương mại) -> Giai đoạn xử lý (Sơ chế hay chế biến) -> Đối tượng khách hàng (Bán cho Doanh nghiệp hay Cá nhân/Hộ kinh doanh).
Đặc biệt, cần ghi nhớ “từ khóa” quan trọng nhất trong Luật Thuế GTGT 2024: Sản phẩm lâm nghiệp ở khâu kinh doanh thương mại bán cho người tiêu dùng được hưởng thuế suất 5%, NHƯNG TRỪ GỖ VÀ MĂNG. Việc nhầm lẫn áp dụng thuế suất 5% cho gỗ nguyên liệu khi bán lẻ có thể dẫn đến rủi ro bị cơ quan Thuế truy thu thuế và xử phạt vi phạm hành chính với số tiền rất lớn.
Lưu ý: Đối với các quy trình cưa, xẻ, sấy gỗ phức tạp, doanh nghiệp nên lập hồ sơ gửi Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hoặc cơ quan Thuế quản lý trực tiếp để xin công văn hướng dẫn xác định rõ giới hạn giữa “sơ chế” và “chế biến”, từ đó có căn cứ pháp lý vững chắc nhất khi xuất hóa đơn.
Bài viết có sự tham khảo từ: https://baochinhphu.vn/chinh-sach-thue-gia-tri-gia-tang-doi-voi-san-pham-go-102260512102422169.htm
Tham khảo thêm bài viết của chúng tôi: https://htllaw.com.vn/cham-dong-bhyt-cho-nguoi-lao-dong-bi-phat-70-trieu